Hậu quả pháp lý khi ngoại tình
Hôn nhân là nền tảng của gia đình và xã hội, được pháp luật bảo vệ nhằm đảm bảo quyền lợi của cả hai vợ chồng cũng như con cái. Tuy nhiên, trong thực tế vẫn xảy ra không ít trường hợp ngoại tình khi đang hôn nhân. Vậy ngoại tình có bị coi là hành vi vi phạm pháp luật hay không? Hậu quả pháp lý như thế nào?

1. Ngoại tình là gì?
Hiện nay, pháp luật chưa có khái niệm cụ thể ngoại tình là gì, đây là thuật ngữ thường được sử dụng để nói đến trường hợp một người đang trong quan hệ hôn nhân hợp pháp nhưng lại có quan hệ tình cảm như vợ chồng với người khác.
Để bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình, Điều 5 Luật Hôn nhân gia đình 2014 quy định các hành vi bị cấm bao gồm: “Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”
Có thể hiểu hành vi ngoại tình là hành vi của:
- Người đang trong tình trạng hôn nhân mà chung sống như vợ chồng với người khác, bất kể công khai hay bí mật.
- Người chưa có vợ/chồng biết rõ người khác đang có vợ/chồng mà vẫn chung sống như vợ chồng với họ, dù công khai hay âm thầm.
Đồng thời, Điều 19 Luật Hôn nhân gia đình 2014 cũng quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau”. Như vậy, hành vi ngoại tình có thể xem là vi phạm nghĩa vụ vợ chồng, vi phạm điều cấm của Luật Hôn nhân gia đình. Hành vi này có thể bị xử lý tùy theo tính chất, mức độ vi phạm.
2. Quy định về việc xử lý hành vi ngoại tình
Ngoại tình không chỉ gây tổn thương về mặt tình cảm mà còn có thể vi phạm pháp luật tại Việt Nam. Khi phát hiện chồng hoặc vợ ngoại tình, người bị phản bội có thể thực hiện các biện pháp pháp lý để bảo vệ quyền lợi của mình.
2.1. Xử phạt hành chính
Căn cứ khoản 1 Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP, người ngoại tình bị xử phạt hành chính từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với các hành vi cụ thể như sau:
- Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
- Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
- Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
- Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
2.1. Truy cứu trách nhiệm hình sự
Trong trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng, người có hành vi ngoại tình có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 182 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017) về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng:
1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;
b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;
b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.
Như vậy, người có hành vi ngoại tình có thể bị xử phạt vi phạm hành chính từ 03 triệu đồng đến 05 triệu đồng hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự với khung hình phạt đến 03 năm tù. Tuy nhiên trên thực tế hành vi ngoại tình thường chỉ được giải quyết theo phương pháp dân sự là chấm dứt hôn nhân, hoặc chỉ được xử lý ở mức độ hành chính, vẫn ít có vụ án liên quan đến vấn đề hình sự. Nguyên nhân chính là hạn chế trong việc thu thập chứng cứ, khung hình phạt cho loại tội phạm không cao và tâm lý của người bị hại.
Khi yêu cầu xử lý hành vi ngoại tình, việc thu thập chứng cứ là yếu tố then chốt. Các tài liệu sau đây có thể là nguồn chứng cứ chứng minh hành vi ngoại tình: dữ liệu âm thanh, hình ảnh, tin nhắn, chữ viết có nội dung liên quan hành vi ngoại tình, trình bày của người chứng kiến, các tài liệu khác chứng minh việc chung sống như vợ chồng,…
3. Hậu quả pháp lý của hành vi ngoại tình
3.1. Nguy cơ bị Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn đơn phương
Ngoại tình là một trong những căn cứ để Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn đơn phương của bên bị phản bội.
Theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014: “Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.” Việc vợ hoặc chồng có quan hệ ngoại tình có thể sẽ làm cho “Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” như quy định tại Điểm c khoản 3 Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP. Như vậy, hành vi ngoại tình thường được xem là vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ chung thủy làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, từ đó Tòa án có thể chấp nhận yêu cầu ly hôn của bên bị phản bội.
3.2. Nguy cơ bất lợi khi xét quyền nuôi con sau ly hôn
Theo Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình 2014, việc giao con cho ai nuôi căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con. Người ngoại tình, khi ly hôn có thể bị ảnh hưởng đến việc giành quyền nuôi con, do hành vi ngoại tình có thể bị coi là ảnh hưởng đến đánh giá tư cách đạo đức làm cha/mẹ, đặc biệt khi hành vi ngoại tình ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình hoặc khiến họ bỏ bê con cái, Tòa án có thể xem đây là yếu tố bất lợi khi xét quyền nuôi con.,
Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật này, nếu con từ 7 tuổi trở lên, Tòa án sẽ xem xét nguyện vọng của con, nếu con cảm thấy tổn thương hoặc không muốn sống với người ngoại tình, điều này có thể là yếu tố quan trọng khiến Tòa án quyết định giao con cho bên còn lại.
Tuy nhiên, nếu người ngoại tình vẫn chứng minh được có điều kiện tốt hơn cho con về vật chất, tinh thần, Tòa án vẫn có thể xem xét giao con cho họ.
Nói cách khác, ngoại tình không đương nhiên mất quyền nuôi con, nhưng là tình tiết bất lợi khi Tòa án đánh giá quyền lợi của con.
3.3. Nguy cơ bất lợi khi chia tài sản chung của vợ chồng
Theo Khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân gia đình 2014, nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn là chia đôi, nhưng có tính đến các yếu tố như lỗi của mỗi bên trong việc vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
Như vậy, nếu một bên ngoại tình, dẫn đến hôn nhân tan vỡ, thì bên đó bị coi là có lỗi, và phần tài sản được chia có thể ít hơn so với bên còn lại. Quỳnh Anh
📌Bài viết này mang tính chất tham khảo chung về các quy định pháp luật. Nội dung được dẫn chiếu có thể đã được sửa đổi, bổ sung, thay thế tại thời điểm Quý khách đọc bài viết. Để nhận được tư vấn pháp lý chuyên sâu và chính xác cho trường hợp cụ thể của mình, Quý khách vui lòng liên hệ trực tiếp với HÃNG LUẬT DUY TÍN. Với đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm và chuyên môn sâu rộng, chúng tôi tự tin mang đến giải pháp toàn diện, đảm bảo mọi quyền lợi hợp pháp của bạn được bảo vệ một cách tốt nhất.
Quỳnh Anh
————————————
HÃNG LUẬT DUY TÍN – Nhận niềm tin, Trao uy tín
Thông tin liên hệ:
☎ Hotline: 0913.210.284/ 0989.934.885
📩Email: luatduytin@gmail.com
🌐Website: https://luatduytin.vn/
📍Địa chỉ liên hệ: Tầng 1, số 2 ngõ 2 phố Trung Kính, phường Yên Hòa, TP Hà Nội.