Trang chủ » NGƯỜI THỪA KẾ VÀ HÀNG THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

NGƯỜI THỪA KẾ VÀ HÀNG THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Thừa kế theo pháp luật là một chế định phức tạp nhưng vô cùng quan trọng, nhằm đảm bảo quyền lợi của những người có quan hệ thân thiết nhất với người chết khi không có di chúc. Việc xác định người thừa kế, hàng thừa kế theo pháp luật là nguyên tắc nền tảng để phân chia di sản một cách công bằng và hợp pháp. Để giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về quy định pháp luật, bài viết dưới đây của Hãng Luật Duy Tín giúp bạn đọc tìm hiểu về vấn đề này

1. Các hàng thừa kế

Pháp luật Việt Nam quy định rõ ràng về thứ tự ưu tiên hưởng thừa kế. Sự phân chia này dựa trên mối quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng và hôn nhân. Theo quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015, những người được hưởng thừa kế sẽ được chia làm ba hàng tương ứng với thứ tự hưởng thừa kế khác nhau. Bao gồm ba hàng thừa kế như sau:

– Hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

– Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

– Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ ruột, cụ ngoại.

2. Thứ tự ưu tiên của hàng thừa kế

Thứ tự ưu tiên của người thừa kế cũng sắp xếp theo thứ tự của ba hàng thừa kế. Người thừa kế ở hàng sau chỉ được hưởng thừa kế nếu không còn người thừa kế ở hàng thừa kế trước. Không có người thừa kế ở hai hàng khác nhau cùng được hưởng di sản theo pháp luật.

Những người ở hàng thừa kế thứ nhất sẽ được ưu tiên hàng đầu bởi giữa họ có mối quan hệ thân thuộc, thiêng liêng và gần gũi nhất. Hàng thừa kế thứ nhất được xác định trên cả ba mối quan hệ: quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng. Khi không còn ai ở hàng thừa kế thứ nhất thì những người ở hàng thừa kế thứ hai sẽ được hưởng di sản. Hàng thừa kế thứ ba cũng tương tự như vậy, sẽ được nhận di sản nếu không còn ai ở hàng thừa kế thứ hai.

Về nguyên tắc, theo quy định tại khoản 2 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015, những cá nhân thuộc hàng thừa kế được hưởng phần di sản ngang nhau. Nếu được hưởng thừa kế, thì những người ở cùng hàng thừa kế sẽ được hưởng theo tỷ lệ là bằng nhau, không phân biệt về tuổi tác, giới tính, huyết thống. Một suất thừa kế được tính trong hàng thừa kế theo công thức: lấy tổng số di sản chia thừa kế chia cho tổng số người hưởng thừa kế.

3. Các trường hợp không được hưởng di sản

3.1 Trường hợp bị mất quyền hưởng di sản: mặc dù thuộc hàng thừa kế được hưởng di sản, nhưng một người vẫn có thể bị loại trừ khỏi quyền lợi này nếu vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự năm 2015:

a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

3.2 Trường hợp từ chối nhận di sản: người thừa kế tự nguyện từ chối nhận di sản theo đúng thủ tục pháp luật quy định tại Điều 620 Bộ luật Dân sự năm 2015:

–  Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.

– Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết.

– Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản.

4. Ví dụ minh họa

Ông A chết đi để lại khối di sản trị giá 300 triệu đồng nhưng không để lại di chúc. Trong gia đình ông A hiện có: bà B (vợ ông A), hai người con ruột của vợ chồng ông A là chị C và anh D (đều đã lập gia đình). Do ông A không để lại di chúc nên theo khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì những người được hưởng di sản của ông A bao gồm: bà B, chị C và anh D. Theo đó, trị giá di sản mà mỗi người hưởng được là: B = C= D = 300/3 = 100 triệu đồng.

📌Bài viết này mang tính chất tham khảo chung về các quy định pháp luật. Nội dung được dẫn chiếu có thể đã được sửa đổi, bổ sung, thay thế tại thời điểm Quý khách đọc bài viết. Để nhận được tư vấn pháp lý chuyên sâu và chính xác cho trường hợp cụ thể của mình, Quý khách vui lòng liên hệ trực tiếp với HÃNG LUẬT DUY TÍN. Với đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm và chuyên môn vững vàng, chúng tôi sẽ mang đến giải pháp toàn diện, đảm bảo tốt nhất mọi quyền lợi của bạn.

———————————— 

HÃNG LUẬT DUY TÍN – Nhận niềm tin, Trao uy tín

Thông tin liên hệ:

☎ Hotline: 0913.210.284/ 0966.902.665

📩Email: luatduytin@gmail.com

🌐Website: https://luatduytin.vn/ 

📍Địa chỉ liên hệ: Tầng 1, số 2 ngõ 2 phố Trung Kính, phường Yên Hòa, TP Hà Nội.